Chào mừng quý vị đến với website CHÂN TRỜI MỚI của Thầy Trần Văn Sách

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Gốc > Thư viện văn học >

Dạy tác phẩm tùy bút trong trường THPT - Nhìn từđặctrưng thể loại (P3)

 Trần Văn Minh
Khoa Sư phạm - Đại học Cần Thơ

3- Từ những phân tích ở phần trên, có thể khẳng định rằng quan điểm và cách trình bày của sách giáo khoa về các tác phẩm tùy bút đã có chỗ nhập nhằng, chưa thật nhất quán. Không thể diễn đạt theo kiểu lập lờ, thiếu dứt khoát: “Bài ký thực chất thuộc thể tùy bút”. Bởi tùy bút, mặc dù phái sinh từ ký, nhưng đã tồn tại trong nền văn học với tư cách một thể loại độc lập có đặc điểm nội dung và nghệ thuật rất rõ nét. Mặt khác, là thể loại trung gian, lưỡng hợp, nên trong tùy bút tỉ lệ giữa hai yếu tố tự sự và trữ tình không phải bất biến mà luôn biến hóa, linh hoạt. Trên cơ sở cái mạch cảm hứng ưu trội lên là trữ tình, yếu tố tự sự có thể đậm nhạt khác nhau ở mỗi tác phẩm, mỗi nhà văn. Tự sự trong tùy bút không chỉ mang ý nghĩa làm nền cho mạch cảm xúc, bản thân nó cũng là một giá trị. Vì thế, cho rằng Nguyễn Tuân viết tác phẩm Người lái đò sông Đà theo thể loại “tùy bút pha bút ký” và có loại tùy bút “thuần túy trữ tình” tức là đã phức tạp hóa vấn đề một cách không cần thiết.Hoàn toàn có đủ cơ sở để khẳng định dứt khoát rằng: Người lái đò sông ĐàAi đã đặt tên cho dòng sông ? là hai tác phẩm tùy bút đặc sắc. Ở trang viết của Nguyễn Tuân yếu tố tự sự có phần đậm nét, nhưng trữ tình vẫn là cốt lõi, quán xuyến toàn bộ mạch cảm xúc, tư tưởng của tác phẩm. Những câu hỏi gợi ý trong phần Hướng dẫn học bài của sách giáo khoa hầu như chỉ nhằm tìm hiểu về nghệ thuật khắc họa hình ảnh sông Đà, hình tượng ông lái đò Lai Châu và nét tài hoa độc đáo, uyên bác của phong cách tùy bút Nguyễn Tuân (Câu hỏi 1: “Dưới ngòi bút Nguyễn Tuân, sông Đà như một nhân vật có hai tính cách mâu thuẫn nhau: hung bạo và trữ tình. Dựa vào cách quan sát và diễn tả đó của nhà văn, có thể chia đoạn văn trích làm mấy phần?...”; Câu hỏi 2: “Hãy chứng minh những phương diện khác nhau của tài nghệ Nguyễn Tuân…”; Câu hỏi 3: “Tác giả đã dùng biện pháp gì để diễn tả…?”; Câu hỏi 4: “Diễn tả vẻ đẹp trữ tình của sông Đà, tác giả đã chuyển giọng văn như thế nào…”; Câu hỏi 5: “Hãy cho biết để viết được đoạn văn trích, tác giả phải vận dụng những tri thức của các ngành văn hóa, nghệ thuật nào. Hiệu quả thẩm mỹ đạt được ra sao?”; Câu hỏi 6: “Qua đoạn trích, anh (chị) có nhận xét gì về đặc điểm phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân?”). Rõ ràng, trong khi cái tôi tài hoa, uyên bác được chú trọng khai thác thì cái tôi dào dạt, tinh tế trong cảm xúc, chân thành gắn bó với đất nước và dân tộc của một nhà văn từng có thời kỳ dài thoát ly cuộc sống, chỉ ham mải miết trong xê dịch… ít nhiều đã bị xem nhẹ.Giá trị đích thực của tác phẩm văn chương, suy cho cùng, không phải chỉ qua việc phản ánh, khắc họa hiện thực mà còn ở tầm tư tưởng, cảm xúc và những suy nghiệm sâu sắc về con người, về cuộc sống. Cái đẹp của văn tùy bút Nguyễn Tuân thể hiện rõ nét, tập trung ở Người lái đò sông Đà là điều không thể phủ nhận. Nhưng lòng yêu mến thiết tha, thái độ trân trọng chế độ mới, cuộc sống mới và sự thay đổi căn bản trong quan niệm thẩm mỹ mới chính là cái mạch ngầm tư tưởng, cảm xúc có ý nghĩa quyết định đối với công việc sáng tạo của người nghệ sĩ. Cần chú ý khai thác hơn nữa khía cạnh này khi dạy và học tác phẩm, nếu không sẽ rơi vào tình trạng thiếu nhất quán: định hướng lý luận một đằng, triển khai tiếp cận tác phẩm cụ thể một nẻo. Với tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông? tình hình cũng giống hệt như thế. Trong số 6 câu hỏi hướng dẫn học bài, chỉ có nửa câu đề cập tới chất trữ tình (nửa đầu câu số 6): “Qua đoạn trích, anh (chị) có cảm nhận gì về tấm lòng của tác giả đối với Huế, với dòng sông Hương…”. Khi chuyển hẳn yêu cầu “hình dung như thế nào về nhân vật tôi - người kể chuyện” sang phần Bài tập nâng cao, các tác giả biên soạn sách cũng có cái lý của họ. Nhưng rõ ràng không thể vì phải đảm bảo mức độ, khối lượng kiến thức ở từng đối tượng học sinh mà xem nhẹ đặc trưng thể loại khi tiếp cận tác phẩm văn chương. Vả lại, làm sao xác định được phần Bài tập nâng cao trong Sách nâng cao là để dành cho đối tượng nào? Thế là, một hệ quả không ai mong muốn có thể sẽ xuất hiện: nội dung chương trình càng nặng nề, cồng kềnh hơn khi cố gắng đưa thêm vào những tác phẩm giàu chất trữ tình nhưng lại định hướng khai thác yếu tố ấy một cách sơ lược, không đúng mức.

4- Phải xuất phát từ đặc trưng thể loại, đó là một nguyên tắc cơ bản của quá trình cảm thụ và bình giá các tác phẩm văn chương. Điều này chắc ai cũng biết. Nhưng đảm bảo nguyên tắc ấy xuyên suốt từ khâu biên soạn sách cho đến định hướng tiếp cận và thực tiễn dạy - học với nhiều đối tượng khác nhau ở bậc THPT như hiện nay, quả là không hề đơn giản. Thiết nghĩ, công việc phức tạp này chỉ có thể đạt hiệu quả như mong muốn khi được nhiều người cùng quan tâm và chung tay hành động.Nếu đã xác định rằng trong tác phẩm tùy bút chất trữ tình bao giờ cũng chiếm ưu thế thì cần phải chú trọng đặt nhiều vấn đề hơn, tạo nhiều tình huống hơn để khơi gợi ở học sinh sự đồng điệu, ngưỡng vọng trước cái tôi giàu cảm xúc, tinh tế, chân thành của người nghệ sĩ. Những tình cảm cao đẹp đối với quê hương đất nước, với tổ tiên ông bà, với gia đình, bè bạn,… chắc chắn sẽ có thêm điều kiện để nảy sinh; góp phần vào việc hoàn thiện nhân cách cho học sinh. Công sức và tâm huyết của các tác giả trong Hội đồng biên soạn sách giáo khoa là đáng trân trọng. Do đó, việc nêu ra những điểm chưa hợp lý từ góc nhìn chủ quan của cá nhân không nằm ngoài mục đích góp thêm ý kiến để rộng đường trao đổi, thảo luận; ngõ hầu tìm được tiếng nói chung, vì sự ổn định và phát triển của nền giáo dục nước nhà1                                                                

                                                       Cần Thơ, tháng 02/2009 _

____________

(1)  Sách Ngữ Văn 12 nâng cao, tập một, Nxb. Giáo dục, H- 2007, tr.178.(2)  Sách giáo viên Ngữ Văn 12 nâng cao, tập một, Nxb. Giáo dục, H, 2007, tr.168.(3) Xem chú thích số 1, tr.159.(4) Xem chú thích số 2, tr.150.(5)  Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (chủ biên): Từ điển văn học bộ mới, Nxb. Thế giới, H, 2004, tr.1888.(6) Nguyễn Đăng Mạnh (biên soạn và giới thiệu) - Nguyễn Tuân toàn tập, tập 1, Nxb. Văn học, H, 2000, tr.107.(7) Trần Thanh Hà: Tam diện tùy bút, Nxb. Tri thức, H, 2007, tr.9.(8) Nguyễn Văn Hạnh: Lý luận văn học, Vấn đề và suy nghĩ, Nxb. Giáo dục, 1998, tr.100.(9) G.N. Pôxpêlôp (chủ biên): Dẫn luận nghiên cứu văn học - Những người dịch: Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Lê Ngọc Trà, Nxb. Giáo dục, H, 1998, tr.198 và 327

(10) Trần Đình Sử: Lý luận văn học tập 2, Nxb. Giáo dục, H, 1997, tr.172.

(11) G.N. Pôxpêlôp (chủ biên), Sđd, tr.348.


Nhắn tin cho tác giả
Trần Văn Sách @ 23:06 03/06/2011
Số lượt xem: 703
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến